BONUS :
La commémoration des rapatriements
Les retrouvailles avec le copain du documentaire

DISCOURS DU 50e ANNIVERSAIRE DU RAPATRIEMENT DES VIETNAMIENS DE NOUVELLE-CALEDONIE ET DU VANUATU
AU VIET NAM 1960- 2010 (Haiphong, 31 décembre 1960)
Mesdames, mesdemoiselles et messieurs,
Au nom de la délégation de la section hanoïenne de liaison avec les Vietnamiens en Nouvelle-Calédonie et au Vanuatu, je présente aux délégués, aux invités, à nos anciens ainsi qu’à tous les frères et sœurs, mes sincères salutations.
L’année 2010 approche à sa fin et il nous reste encore très peu de temps pour la clôturer avec de grands évènements qui feront la fierté de chaque Vietnamien vivant dans le pays ou en Outre Mer.
La grande cérémonie de célébration du millénaire de Thang Long Ha Noi, a permis de mettre en lumière la beauté de la ville qui a connu beaucoup changements et qui s’est considérablement modernisée au fil du temps. Elle mérite aujourd’hui d’être nommée « Capitale héroïque et de
Venant de toutes les provinces, nous nous réunissons aujourd’hui à l’endroit où nous avions mis les pieds pour la première fois, pour fêter le 50ème anniversaire de notre arrivée sur cette terre Patrie.
50 années sont longues dans une vie. Pendant toute cette période, beaucoup d’évènements se sont passés. Et aujourd’hui, nous consacrons une journée entière pour se retrouver, partager, échanger et écouter les confidences entre amis.
Nous avons bien écouté le rapport de M. Trinh Van Tai sur les «50 années de dévouement et de maturité des Vietnamiens rapatriés ». Il s’agit d’une sorte de photographie représentant des milliers de cœurs, des milliers de bras, des milliers de cerveaux. Beaucoup ne sont plus là maintenant, mais leurs noms sont enregistrés dans la contribution à l’édification commune. C’est grâce à leur labour si nous bénéficions aujourd’hui, d’une vie meilleure.
Nous sommes très heureux de la présence parmi nous des Viet Kieu venant de Nouvelle-Calédonie, du Vanuatu et d’autres pays. Ils sont présents aujourd’hui à ce rendez vous très symbolique. Leur présence contribue à la réussite de cette journée.
Nombreux sont les Viet Kieu, qui auraient souhaité assister à cette manifestation mais malheureusement, leurs obligations les ont retenus. Cependant en ce moment même, ils sont de tout cœur avec nous. M. et Mme Dang Van Nha (M. Nha, président de
Depuis le 40ème anniversaire de rapatriement en l’an 2000, après la création de l’Association de Hai Phong, de nombreuses associations et clubs ont vu le jour, dans diverses provinces du pays. Ils sont basés sur l’entraide et l’échange dans des divers domaines. Des journées de rencontres et de partage ont été organisées pour définir les relations d’amitié et d’entraide entre le Vietnam,
En Nouvelle-Calédonie, vivent 3000 Viet Kieu bien intégrés dans la vie économique et sociale du pays. Ils se sont affirmés en tant que groupe culturel dans une société multiethnique, et remplissent leurs devoirs en tant que citoyens du pays. Si ces Viet Kieu ont su préserver leur culture d’origine, c’est parce que le sang vietnamien coule dans leur veine. Malgré l’éloignement avec
Monsieur Jean Khac, l’ancien président de l’Amicale Vietnamienne, m’a confié : « Maintenant nous ne connaissons qu’un seul Vietnam pour phare, et c’est la terre de nos ancêtres ». Son fils Jean Martial qui a endossé 4 mandats en tant que président de l’Amicale vietnamienne affirme quant à lui : «Le Vietnam est toujours présent dans mon cœur ».
En 2008 Jean Martial et son épouse ont entrepris un voyage au pays. Après avoir rendu visite à la famille, ils sont allés à l’Orphelinat
En septembre 2008, l’Amicale vietnamienne a organisé un voyage au Vietnam pour une délégation composée de 19 personnes. Cette délégation a été reçue par le Président du Comité d’Etat des Vietnamiens à l’étranger.
En 2009, le président de l’Amicale vietnamienne nous a proposé de signer un traité d’amitié. Nous avons été conviés à venir à Nouméa pour signer ce traité.
Ainsi, le 8 mars 2009, notre délégation composée de 6 personnes, est arrivée à Nouméa. Nous avons été reçus solennellement. La cérémonie de signature a eu lieu le 14 mars, en présence du président du gouvernement de
L’une des clauses de la convention met en place les conditions d’échange entre les deux communautés afin de faciliter les déplacements des groupes de personnes souhaitant se rendre au Vietnam ou bien en Nouvelle-Calédonie.
Lors de cette signature, la délégation de
Fin septembre 2010, l’Amicale Vietnamienne a organisé un déplacement au Vietnam pour assister à la grande manifestation de 1000 ans de Ha Noi Thang Long. Trente-deux personnes ont fait partie de ce voyage. Parmi ces personnes il y avait :
- 20 d’origine vietnamienne
- 5 d’origine française
- 7 d’origine kanak.
Elle est aussi intervenue auprès du gouvernement pour que la délégation Viet Kieu de Nouvelle-Calédonie puisse assister au défilé de la grande cérémonie avec le groupe de délégation des Viet Kieu venant du monde entier. Nous ainsi pu obtenir des 10 places !
A l’arrivée à l’aéroport de Noi Bai, la délégation a été accueillie par la section de Hai Phong et de Hanoi.
A Haiphong, madame Giang Kim Thanh chef de la délégation et madame Gorodey, la ministre de la culture de Nouvelle-Calédonie, ont été reçues par le vice-président du Comité Populaire Hoang Van Ke.
Lors de ce séjour, les membres de la délégation calédonienne ont pu découvrir avec étonnement toute la richesse de la culture vietnamienne. Tous les participants ont été enchantés de ce voyage et en gardent un souvenir mémorable.
A l’issue de la grande manifestation pour les 1000 ans de Hanoi, madame Gorodey et ses collaborateurs, ont rejoint le groupe de l’AVNC. Les membres du gouvernement de
En commun accord entre L’Amicale Vietnamienne de Nouvelle-Calédonie et les organismes des Viet Kieu au Vietnam, un projet est en cours pour programmer un voyage destiné aux représentants de toutes les Associations, les Clubs dans toutes les provinces et villes du Vietnam. Cette information sera largement diffusée aux Viet Kieu.
Fin 2010 l’Association Viet Kieu de Haipgong – Vanuatu Ville de Haiphong a fait un très grand effort pour organiser l’anniversaire des 50 ans de l’arrivée des Viet Kieu au Vietnam. Lors de cette grande manifestation, malgré la froideur de la température, la chaleur était présente dans les cœurs. Nous souhaitons à
Nous souhaitons à la ville « Des flamnboyants rouges » d’obtenir et de devenir un centre économique de la région maritime du Nord du Vietnam et dans tout le pays.
2011 arrive, Dieu nous donne encore un an de plus et nous espérons qu’il nous donne aussi la santé et beaucoup de bonheur.
Nous souhaitons que la rencontre pour 50ème anniversaire du rapatriement des Vietnamiens de Nouvelle-Calédonie et Vanuatu soit un succès.
Nous souhaitons aux représentants, aux invités, à nos anciens ainsi qu’aux amis Paix et prospérité.
Merci
Section de Calédonie-Vanuatu Ha Noi
Le Président
Nguyen Van Ngan
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Traduction discours du 31 décembre 2010
Mars 2011
Amicale Vietnamienne NC
Sinh hoạt của cộng đồng người Việt tại Nouméa gắn liền với sinh hoạt của chùa và nhà thờ. Họ cũng lập ra Nhà Việt Nam, Hội Ái hữu người Việt (Amicale Vietnamienne) và tổ chức các lớp dạy tiếng Việt, dạy võ thuật, dạy thiền cho những ai muốn tham gia. Như đã nói, người Việt ở Nouméa phần lớn đều thành đạt. Ông Trần Lương Vị, sinh năm 1952, qua Tân Đảo theo diện di dân. Theo cách nói của mình, ông là một người tay trắng làm nên dù mới qua Nouméa khoảng mười mấy năm, nhưng đã dành dụm tiền mua được một tiệm chuyên bán tạp hóa với giá gần 60 triệu đồng Franc (khoảng 900 nghìn USD) để gia đình sinh sống. Ông cho biết: “Cũng như gia đình tôi, người Việt mình tại đây phần lớn kiếm sống bằng nghề buôn bán. Nếu so sánh với người Pháp da trắng, người Việt thua hẳn về phương diện thương mại và công quyền, nhưng với người đa đen và người bản xứ thì người Việt lại vượt xa bởi thường là chủ nhân của các cửa tiệm như tạp hóa, nhà hàng, khách sạn, siêu thị...”
Đáng chú ý, tại nghĩa địa Voh nằm ở cây số 4 theo hướng đi lên phía bắc của thủ đô Nouméa có những ngôi mộ cổ của người Việt lập từ năm 1909 có ghi rõ quốc hiệu “Đại Nam quốc” bằng chữ Hán. Đặc biệt sau năm 1945, không ít bia mộ còn chạm khắc rõ ràng quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Theo lời cô giáo người Pháp Stéphane Pannoux hiện đang giảng dạy môn lịch sử tại Trường Đại học Grand Terre: “Những mộ bia tương tự ở khắp Nouméa, đặc biệt nơi trước kia từng là các trại tập trung của người chân đăng (tiếng Pháp gọi “D’engager” nghĩa là người đăng ký tình nguyện sang Tân thế giới theo nghề phu mỏ phục vụ cho thực dân Pháp trong chiến tranh thế giới thứ II) sinh sống đã cho ra một kết quả chung: phần lớn các mộ của người chân đăng, có gốc tích khắp các tỉnh thành Bắc bộ như Nam Định, Hải Dương, Thái Bình... Chúng tôi đang cố gắng làm sáng tỏ gốc tích các ngôi mộ và chứng minh đó là mộ phần của người Việt, trong đó có mộ phần của các nghĩa quân khởi nghĩa bị đưa đi lưu đày, số còn lại là của người chân đăng Việt Nam. Nói chung, khi nhìn thấy các mộ phần, tôi thực sự xúc động và ấn tượng bởi các ký tự kỳ lạ trên bia mộ khiến tôi quyết định phải tìm hiểu về nó. Nhưng cũng thật vui khi nghiên cứu của tôi giúp cho các bạn Việt Nam ở đây hiểu hơn về cha ông mình, và đây cũng là một bài giảng rất thú vị luôn hấp dẫn các học trò ở bộ môn lịch sử trong Trường Đại học tại Nouméa...”
Anh Bùi Hiệp - thế hệ người chân đăng thứ ba đang sinh sống tại Nouméa, thành viên Hội Ái hữu, dù tiếng Việt rất hạn chế nhưng cũng hăng say sưu tầm tài liệu, hình ảnh và bất cứ thứ gì liên quan đến câu chuyện về “người chân đăng” chỉ với mong muốn: “Để cho người Việt ở đây hiểu về lịch sử và nguồn gốc xuất hiện của người chân đăng và mong muốn những tư liệu người chân đăng sẽ cụ thể hoá bằng một đài tưởng niệm, hay một tấm bia ghi công những người chân đăng trên quần đảo ngoài khơi Thái Bình Dương này.
Như Quỳnh
« On peut enfin mettre des images sur les récits de nos parents et de nos grands-parents », se réjouit Mélanie, 22 ans, la plus jeune de ce petit groupe de Vietnamiens à la recherche de leur passé.Après deux heures de 4x4 sur les routes sinueuses ouvertes par KNS pour son exploitation minière, le chemin des vieux s’ouvre au groupe. 1,5 kilomètre de descente avant d’arriver au village. Les plus âgés ne sont pas découragés, ils veulent savoir.
L’ambiance est encore légère. Miguel Ate poursuit ses explications au détour d’un croisement. « Tous les matins, à 3 heures et demie, 4 heures, ils se tapaient toute la montée, les vieux. Il leur fallait une heure et demie, deux heures pour rejoindre une des carrières. L’autre, Bilboquet, est à trois heures de marche ! »
Quand d’un coup, surgi de nulle part, au milieu de cette forêt, un manguier. Trace incontestable de vie. Les premières maisons osent enfin exposer leur carcasse fatiguée. Une chape de plomb tombe. Derrière les sourires, l’étonnement laisse peu à peu place à la douleur. « Comment ont-ils fait pour rester ici ? » « Ça fait mal au cœur de voir dans quelles conditions ils vivaient », lâche, tristement, une des femmes qui sait que sa mère a vécu à Voh. « Maman m’avait raconté ça, poursuit une autre femme, mais pour imaginer... » « C’est un pèlerinage pour nous, indique Mélanie, en venant ici, on honore leur mémoire. »
Ils font le tour des maisons, entrent, sortent, à la recherche d’une trace, d’un écrit qui les rapprocherait encore un peu plus de tous ces anciens qui ont souffert sur ces mines, loin de leur pays natal. Ils essaient de comprendre.
Puis, peu à peu, le présent reprend le dessus. Les rires et les sourires reviennent. Heureux d’en savoir un peu plus sur son passé, le petit groupe entame l’ascension du retour le cœur plus léger. Ils ont vu de leurs yeux ce village qui, grâce à leur initiative, ne pourra plus tomber dans l’oubli. Mélanie, la plus jeune, sait. Et elle a bien l’intention de transmettre cette histoire, pour qu’elle perdure.
Marjorie Bernard
Gilbert N’guyen est le chef de file de ce petit groupe de Vietnamiens, fils ou petits-fils des Chân Dâng qui, pour certains, ont connu le retour difficile au Vietnam dans les années 60 avec les rotations du Eastern Queen, qui a effectué à l’époque une dizaine d’allers-retours entre Nouméa et Haïphong. Et ceux présents jeudi ont fini par retrouver la douceur de vivre du Caillou, il y a une vingtaine d’années.
L’histoire de leurs anciens est peu connue et c’est pour cette raison qu’ils se sont lancés dans l’aventure et ont voulu découvrir ce village qui appartient aujourd’hui à KNS. « On a demandé à André Dang s’il pouvait nous permettre de venir ici, raconte Gilbert N’guyen, et il nous a donné le feu vert. On l’en remercie. »
Caméra au poing et appareils photo en action, le petit groupe veut aussi laisser une trace de son passage. « C’est une partie importante de notre histoire. Ce n’est pas pour rien que les gens nous surnommaient les Niaoulis. C’est que nous sommes nombreux à être nés comme ça, dans la brousse ! Et avec le développement, nous avons peur que ces traces de notre histoire disparaissent. »
Le groupe a demandé à la SLN d’ouvrir ses archives sur cette époque, ce qu’elle a, semble-t-il, accepté. Avec toutes les informations récoltées, il souhaite écrire un ouvrage et faire un film pour que la nouvelle génération connaisse l’histoire des Chân Dâng.

Ces dix jours de fête permettent en effet au Vietnam de maintenir le lien avec la diaspora et de tenter de la convaincre, si ce n’est de revenir, tout du moins d’investir dans la patrie d’origine. Si le parti communiste reste au pouvoir, les choses ont bien changé. Le Vietnam, à l’instar de sa grande voisine mais dix ans plus tard, est en train de s’éveiller. Les grands pays, notamment le Japon, y créent des usines et donc de la richesse et des emplois. Les grands projets ne manquent pas. Les Vietnamiens d’outre-mer, que l’on appelle les Viet-Kieu, sont désormais bienvenus et particulièrement choyés.
Le millénaire d’Hanoi est mis à profit pour montrer au monde le nouveau visage du pays. Durant ces dix jours, Hanoi s’est parée de rouge, couleur à la fois du bonheur et du Parti, et la population a été mise à contribution. Les rues ont été nettoyées et décorées et chaque jour est l’occasion de spectacles et d’animations culturelles ou sportives.
La fête atteindra son paroxysme le 10 octobre, jour considéré, par la date symbolique du triple 10, comme particulièrement chanceux. Won, jeune fonctionnaire au ministère des Affaires étrangères et bientôt papa, espère que sa femme accouchera ce fameux jour. « Qu’importe que ce soit un garçon ou une fille, si le bébé peut naître ce 10 octobre ! », explique-t-il.
La délégation calédonienne va suivre le programme jusqu’à son terme, avant d’aller à Hué, Da Nang ou Ho Chi Minh-Ville, à la découverte de leurs racines.
Une mission culturelle
Accompagnée de Raymond Tyuienon, son directeur de cabinet, et d’Astrid Gopoéa, Déwé Gorodey a mené à
Hanoi une mission culturelle. Elle a passé quelques jours avec la délégation de l’Amicale vietnamienne avant de partir pour New York. Elle a été reçue par Hoang Van Kê, vice-président du comité populaire de Haiphong, troisième ville du pays et premier port vietnamien. Déwé Gorodey a exprimé le souhait que soient renforcées les relations culturelles et économiques entre le Vietnam et la Nouvelle-Calédonie. Chargée de la culture et écrivain, elle a également annoncé la réalisation prochaine d’un livre océanien auquel seront associées toutes les communautés.
Viet-Kieu
Le terme désigne les Vietnamiens installés à l’étranger : ceux qui, comme les Calédoniens, sont nés à l’étranger ; ceux qui ont fui l’Indochine à l’indépendance ; et ceux qui ont fuit le Vietnam du Sud à la chute de Saigon en 1975.
Pendant longtemps, ils ont été considérés comme des traîtres et n’avaient pas le droit de revenir au pays. Mais les temps ont changé. Le Vietnam s’ouvre et a besoin des Viet-Kieu qui ont souvent fait fortune. Les Calédoniens d’origine vietnamienne ont tous de la famille au Vietnam, des cousins ou des grands-parents à qui ils peuvent maintenant rendre visite ou qu’ils peuvent faire venir en Nouvelle-Calédonie même si les procédures administratives restent longues et compliquées.
Haiphong et Hanoi
Au début des années 60, les Calédoniens ayant fait le choix du rapatriement ont débarqué à Haiphong. La propagande assure qu’ils ont été accueillis par Ho Chi Minh en personne. La réalité est tout autre. Tout ce qu’ils ont apporté avec eux de Calédonie leur a été confisqué. Ils ont été envoyés à la campagne pour y travailler dans les champs et faire « l’apprentissage » du Vietnam. Pour la plupart, les rapatriés resteront à Haiphong ou s’installeront à Hanoi, ils y subiront les bombardements américains. Les hommes participeront tous à la guerre.
Aujourd’hui, les rapatriés se sont organisés en association. Cela permet de se retrouver et d’organiser des soirées où l’on évoque les vieux souvenirs et la Calédonie d’autrefois.
***
Nicole Andrea-Song a récemment conduit au Vietnam une délégation chargée d’explorer les filières aquacoles qui pourraient être initiées en Nouvelle-
Calédonie. Elle est revenue de son voyage avec de belles perspectives et, surtout, des projets concrets.
Pourquoi avoir choisi le Vietnam pour ce
voyage d’étude ?Une doctorant vietnamienne, devenue depuis vice-présidente de la faculté des sciences
de l’Université de Nha Trang, était venue préparer et soutenir une thèse à l’Université de
pays, pays qui, soit dit en passant, occupe une place prépondérante sur l’échiquier mondial aquacole.
Nous nous sommes donc rendus dans la province de Khanh Hoa où nous avons pu visiter des centres de recherche, des exploitations de crabes de palétuvier, de bêches de mer, de coquillages et de poissons à très haute valeur commerciale. Nous avons pu ainsi
rencontrer les responsables aquacoles de l’Université de Nha Trang et de l’institut RIA 3
Qu’est-ce qui vous a le plus surprise ?
Comme je viens de le dire, ils vont vite, notamment dans l’élevage de crabes de palétuvier avec la maîtrise des techniques de reproduction et de grossissement.
Le Vietnam exporte actuellement 6 000 tonnes de chair de crabe.
Le pragmatisme et la pertinence de leurs recherches, qu’il s’agisse de l’élevage de crabes, de poissons, d’algues, de coquillages, de bêches de mer, ajoutés à des moyens pourtant faibles, leur permettent de développer des activités multiples et variées, en pointe dans ce secteur.
En outre, face à la problématique des contaminations virales dans leurs bassins à crevettes, ils ont su mettre en place une technique d’alternance et utiliser des tilapias qui, non seulement, jouent un rôle détritivore, mais servent ensuite de nourriture à des poissons carnivores à haute valeur commerciale.
Source : Horizon Sud